Sống để yêu thương

Giữa bộn bề cuộc sống, đôi khi ta tự hỏi: Cuộc sống này sẽ đi về đâu? Sống để làm gì? Trong cả một kiếp người, không ai là không phải trải qua những giây phút khó khăn cùng cực: những bi quan, đau khổ, mất niềm tin; những lo toan, mất mát, và những giọt nước mắt muộn phiền là những điều gắn liền với cuộc đời của một con người. Ai đó đã nói rằng: chỉ khi bạn nếm mùi đau khổ đến 99%, bạn mới nhận được 1% niềm hạnh phúc và mới hiểu được giá trị đích thực của hạnh phúc. Liệu cuộc sống này thật sự nghiệt ngã đến thế sao?
Thật ra, cuộc sống này cho ta rất nhiều thứ mà đôi lúc vì tự thương thân quá mức, ta không thể nhận ra. Những thất bại cho ta kinh nghiệm quý báu, những khó khăn cho ta sức mạnh của nghị lực, những mất mát khiến ta biết quý trọng gìn giữ những gì ta đang có, nước mắt sẽ làm nụ cười thêm rạng rỡ, nỗi bất hạnh mở ra những khát khao hướng về ánh sáng của niềm hạnh phúc, và sự ganh ghét, ích kỷ, thù hận sẽ càng làm cho ai đó mong mỏi mãnh liệt được yêu thương. Dù bạn có được mọi xa hoa của vật chất và danh vọng, cuộc sống này vẫn sẽ là vô nghĩa nếu không có tình yêu thương, niềm hy vọng, không có những tấm lòng rộng mở và trái tim nhân hậu.
“Sống để yêu thương” gồm những câu chuyện về cuộc đời của những con người quen thuộc trong cuộc sống quanh ta: trẻ em, sinh viên, ông bà lão, người mắc bệnh nan y, kẻ nghèo khó, người giàu sang, kẻ thất bại, người kinh doanh thành đạt, kẻ lành lặn, người khuyết tật… Ai cũng có những nỗi đau của riêng mình. Ai rồi cũng cần được yêu thương và cần có ai đó để yêu thương.
Những câu chuyện hay, giống như một người cố vấn tài ba nhất, dẫn đường nhưng lại không hề áp đặt ra lệnh; những câu chuyện ấy là những trải nghiệm độc nhất vô nhị, sự thấu hiểu thắt chặt với xúc cảm làm ta xao động và tái hiện lại những ký ức của chúng ta.
Một câu chuyện thực sự có ý nghĩa sẽ để ta tự nhận ra nhhũng lựa chọn gợi mở, để ta thấy được những hướng đi mới mà có thể chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến. Câu chuyện ấy còn cho phép và truyền cho chúng ta lòng can đảm để thử sức với mọi con đường mới, vượt qua mọi bi quan, yếm thế, đau khổ, thúc đẩy chúng ta hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn. Hy vọng những câu chuyện trong tập sách nhỏ này sẽ mang lại cho bạn điều đó.
“Sống để yêu thương” sẽ giúp chúng ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ và đáng sống biết bao…

Tôi đã từng làm một cuộc nghiên cứu tự nguyện ở Ấn Độ suốt một năm khi tôi quyết định đi làm tình nguyện tại “Ngôi nhà của Mẹ Teresa cho những người bệnh tật, nghèo khó và sắp chết” ở Calcutta. Tôi biết cuộc nghiên cứu đã rất có ích, nhưng tôi không thể cưỡng lại được cảm giác đất nước Ấn Độ đang gọi tôi để làm một việc gì khác nữa. Tôi cảm thấy chỗ của tôi là ở Calcutta, giữa những người “nghèo nhất của những người nghèo”. Và cuối cùng vào một ngày nọ, tôi đã đủ dũng cảm để nghe theo trái tim mình và đáp chuyến tàu đi Calcutta.
Có những điều về Calcutta mà tôi sẽ mãi yêu thương. Tuy còn những lề đường rạn nứt, dơ bẩn, những hàng cây đầy bụi và khói bụi của xe cộ, nhưng có một sự tràn ngập tình cảm con người nới đây khiến tôi vẫn đi dạo trên đường với niềm vui. Thế nhưng, ngày mà tôi đến trên con đường bụi bặm này bên ngoài Ngôi nhà, tôi đã bị sốc.
Tôi đã sốc khi đối diện với nơi mà trái tim minh đã dẫn đến, nhưng tôi đã không thể đi theo vào cùng những tình nguyện viên đang tiến vào trong. Tôi thấy sợ hãi với những gì xảy ra ở trong kia mà mình không thể giúp gì được. Tôi đứng ở bên ngoài một mình cho đến khi không thể trì hoãn lâu hơn nữa. Tôi đi đến cánh cửa hẹp bằng gỗ và bước vào trong.
Điều đầu tiên tôi thấy là một người chết, được bọc trng một tấm chăn để chờ được mang đi. Tôi chưa từng bao giờ thấy cảnh tượng như vậy; mà chỉ chứng kiến người thân mình qua đời trong quan tài. Tôi dừng lại trước cơ thể gầy còm, quặt quẹo của ông ta. Một bà xơ tiến lại và hỏi tôi cần gì. Khi nhìn chiếc áo khoác đơn giản và đôi bàn tay chai sần của bà, tôi nhận ra bà đã tiếp xúc với người chết mỗi ngày. Chắc bà ta không muốn tôi làm mất thời gian của bà, nên tôi tự hứa rằng mình sẽ mạnh mẽ và không làm bà thất vọng. “Tôi đến đây để phụ giúp”, tôi nói. “Tôi có thể làm được gì?”
Ngay lập tức bà xơ kéo tôi vào một căn phòng với cái tủ thuốc gần như rỗng và mở tung một cái tủ lớn hơn chứa chăn và tã lót. Không một lời chỉ dẫn, bà chỉ tôi tới cánh tay bị thương của một người phụ nữ và giục tôi làm. Ngay khi tôi đang tìm cái tạp dề, một đứa bé chừng hai tuổi thét lên sau lưng khi một người tình nguyện lau rửa những vết bỏng trên gần nửa cơ thể của em. Hai người khác thì đang lau rửa một cái lỗ ở chân một người phụ nữ. Tôi có thể thấy xương nhô lên từ miếng thịt đầy máu. Không thể tin được sự dũng cảm và sự khéo léo của những người tình nguyện ở đây! Một người chết, một đứa trẻ bị bỏng, một vết cắt thấy tận xương – tôi có thể giúp được gì đây? Tôi không phải là bác sĩ, mà chỉ là một nhà nghiên cứu.
Một tình nguyện viên người Mỹ gọi tôi: “Bạn lại đây và giúp tôi chứ?” Cô ta đang cố làm vệ sinh cho một bà cụ đang quằn quại trong đau đớn. Tôi giúp nâng bà ta lên và lau khô người bà. Nhưng ngay khi bà ta ra, một người khác lại được mang vào. Và tôi nhận ra công việc cứ như vậy trong những phút tiếp theo.
Trước tôi là hai hàng võng với những phụ nữ đang nằm trên đó. Những tình nguyện viên hối hả chạy tới lui, tắm rửa, lau chùi, cho ăn và thay tã. Họ dường như là làm việc theo cặp. Mỗi người đều đặn tới và đi. Tôi cảm thấy lạc lõng. Người Mỹ kia không còn cần tôi nữa, và tôi chẳng còn biết chỗ nào để bắt đầu. Mọi người đều thân thiện nhưng họ lại quá bận để có thể giải thích nhiều cho một người mới đến trễ như tôi. Và khi tôi tự nhủ mình có nên đi ra hay không thì một cô người Đức ném cho tôi một bộ đồ.
Trong hai giờ tiếp theo, tôi giặt, phơi và cố gắng nhẹ nhàng thay tã cho bệnh nhân, hết người này đến người khác. Một vài ngươi khóc lên đau đớn bằng tiếng Hindi; những người khác nhìn trừng trừng nhưng im lặng. Rõ ràng là họ đang bực tức với cô gái phương Tây trẻ đang đụng vào họ một cách vụng về, và tôi không hề trách họ.
Vào giữa trưa, những người tình nguyện ăn bánh và uống trà trên nóc nhà. Thật là tuyệt với khi được gặp những người đã làm việc với tốc độ gấp ba lần mà tôi có thể xoay sở được. Thế nhưng, tôi cảm thấy xấu hổ và thất vọng bởi tôi đã không thể làm gì để trông khác với những người phụ nữ dưới kia. Một lần nữa, lý trí nói rằng tôi đã làm được việc có ích, nhưng trái tim và tinh thần tôi lại thấy trống rỗng. Khi nhìn xuống những người bán hoa và trái cây ngồi cả ngày bên đường, tôi quyết định rằng mình phải tìm ý nghĩa của những việc mình làm ngày hôm đó.
Tôi chạy xuống lầu dưới, cảm thấy đầy đủ năng lượng cho việc cọ rửa tiếp tục. Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, một tình nguyện viên bảo rằng bây giờ không phải là lúc cọ rửa mà là thời gian yên tĩnh, khi tôi có thể bỏ hàng giờ với một người phụ nữ. Tôi có thể chải tóc cho bà ta, nói chuyện với bà ta, hoặc nắm tay bà ta. Tôi bắt đầu đi dọc những chiếc giường và nhờ Thượng đế hãy chỉ tôi đến với một ai đó. Một vài người đang ngủ, và hầu hết những người còn thức thì quay lưng lại với tôi. Nhưng có một người nhìn thẳng vào tôi và gọi tôi bằng tiếng của bà ấy.
Ngồi trên giường, tôi tìm tay người phụ nữ, nhưng bà đã nắm thật chặt lấy cổ tay tôi trước. Mái tóc rối và xơ xác của bà được bôi bóng bởi thuốc mỡ, và làn da nhăn nheo thì xệ xuống tới cằm. Bà nhìn vào mắt tôi một cách dữ tợn trong một phút, hai phút – có lẽ là lâu hơn nữa. Tôi cảm thấy bối rối và định quay lại tìm hỏi một tình nguyện viên nào đó. Đột nhiên bà nắm lấy cổ tay tôi chặt hơn nữa, như muốn nói: không, cô không thể đi. Thời gian của cô vẫn chưa hết ở đây.
Tôi hít một hơi sâu, nhìn vào mắt bà và chợt nhận ra rằng thử thách của tôi là yêu thương mà không được sợ hãi. Tôi bắt dầu làm cái việc duy nhất mà tôi có thể nghĩ tới – xoa bóp cánh tay của bà. Tôi lại tiếp tục xoa bóp cánh tay kia khi đặt bà ta nằm lên gối. Bà nhắm mắt lại. Tôi tìm một ít nước và bóp vai cho bà. Đột nhiên bà kéo áo lên và chỉ vào cái bụng nhăn nheo như gương mặt của bà ít phút trước; tôi cũng mát xa chỗ đó cho bà. Cơ thể bà thả lỏng ra theo đôi tay tôi chạm vào người bà, và gương mặt bà cũng bắt đầu giãn ra. Trong vòng hơn một giờ, tôi đã xoa bóp hai chân, lưng, đầu và cuối cùng là mặt bà.
Trong khoảng thời gian ấy, dấu vết của năm tháng như tan chảy trên khuôn mặt bà. Cuối cùng, khi bà mở mắt ra, đôi mắt ấy tràn ngập sự thanh bình đến nỗi tôi bật khóc. Thật kỳ diệu khi chỉ vài giờ trước đây tôi còn cảm thấy mình vô dụng. Tôi đã quên mất tôi muốn chia sẻ sức mạnh hàn gắn của sự tiếp xúc như thế nào. Nhưng bà đã nhìn thấu qua nỗi sợ hãi của tôi và cho tôi món quà tuyệt vời nhất – cơ hội để yêu một người khác trọn vẹn đến nỗi có thể biến đổi cả hai người. Tôi sẽ luôn nhớ cái thời điểm ấy như những giây phút đẹp và quý nhất trong đời, và sẽ kính trọng bà như một trong những nguời thấy tuyệt vời nhất của tôi.

Kayte Fairfax
Nếu chúng ta cầu nguyện, chúng ta sẽ tin; nếu chúng ta tin, chúng ta sẽ yêu thương; nếu chúng ta yêu thương, chúng ta sẽ phụng sự.
Mẹ Teresa

“Nên nhớ rằng không gì mang lại tiềm năng cho sự thay đổi hơn là những hành động cá nhân của lòng tốt, dù rằng xí nghiệp, tập thể thì quan trọng đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển”, nhà diễn thuyết đã kết luận bài giảng của ông ta về Những cơ hội kinh doanh ở Đông Nam Á như vậy.
Bị ấn tượng bởi kiến thức về kinh doanh của nhà diễn thuyết và những hiểu biết sâu sắc của ông ta về thị trường quốc tế, tôi tin là câu nói cuối của ông có gì đó không trung trực lắm.
Một người Mỹ trong bộ áo đắt tiền, giảng bài ở một khách sạn năm sao thì biết gì về những hành động cá nhân của lòng tốt trong thế giới đang phát triển này nhỉ? Qua những biểu hiện hoài nghi của những người tham dự hội nghị, tôi biết họ cũng nghi ngờ như tôi.
Ngày tiếp theo, trong khi đi tham qua thành phố của Inđônêxia nôi hội nghị đang diễn ra, chiếc taxi của tôi đi ngang qua một khu nhà đổ nát mà hầu như chỉ chứa rác rưởi. Tôi kéo cửa kính xe xuống, cố gắng để nhìn rõ sự nghèo khổ, dơ bẩn mà tôi đã chỉ được thấy qua tivi ở Mỹ. Nhưng mùi hôi thối của khu vực xung quanh đã ngăn tôi lại. Trước khi đi khỏi chỗ này, tôi còn kịp thấy một người phụ nữ ăn mặc rách rưới với hai đứa con nhỏ đang lục tìm thức ăn thừa từ những đống rác thải.
Hình ảnh người phụ nữ đáng thương và những đứa con khiến tôi cảm thấy mất hy vọng và càng nghi ngờ thêm những lời của nhà diễn thuyết tối hôm ấy. Tôi nghĩ rằng không một sự tự nguyện cá nhân nào, dù là hành động cao quý hay sự tử tế, có thể thay đổi được cảnh ngộ của một gia đình như vậy.
Mười tám tháng sau, một năm rưỡi sống trong những tiện nghi của phương Tây và quên hẳn hình ảnh của người phụ nữ và những đứa trẻ, tôi lại có dịp trở lại thành phố ấy. Và tôi chĩ chợt nhớ về gia đình ấy khi chiếc taxi đi ngang đúng cái khu phố mà họ đã sinh sống. Chỗ này trông có vẻ sạch sẽ hơn dù tôi chắc chắn rằng là đang ở đúng nơi lần trước mình đã tới.
Tôi giải thích với người tài xế là tôi đã đến đây mười tám tháng trước, và hỏi anh ta xem anh có biết người phụ nữ cùng hai đứa con sống giữa đống rác rưởi.
“Ibu Lani”, anh ta nói.
Sợ rằng điều tồi tệ nhất có thể xảy ra, tôi hỏi anh chuyện gì đã đến với cô ta.
“Tôi sẽ chỉ cho ông.”
Cho xe chạy qua giữa những đống hộp bị bỏ đi và báo cũ, người tài xế dừng trước một căn lều nhỏ bằng gỗ núp sau một núi những cái chai rỗng và lon rỉ sét.
Người tài xế chỉ vào cái lều và nói: “Có lẽ cô ta ở đây.”
“Thế đây là nơi cô ta ở à?”, tôi hỏi và ngập ngừng bước ra để nhìn cho rõ.
“Không”, người tài xế cười, nói. “Đây là văn phòng của cô ấy. Cô ta có một căn nhà ở gần nơi những đứa nhỏ của cô đi học.”
“Văn phòng à?”, tôi hỏi. “Tôi nghĩ là cô ấy nghèo đến nỗi đã từng phải tìm thức ăn giữa đống rác mà.”
Anh ta mỉm cười nói với tôi qua kính chiếu hậu.
“Cô ta đã từng như vậy, nhưng một người nước ngoài đã dạy cho cô ta cách thu gom rác và bán chúng cho các công ty để tái chế. Ông ấy còn mang một số người khác đến để cô ấy có thể biết được những gì họ muốn. Tôi biết điều này bởi ông ấy đã từng đi taxi của tôi lần đầu tiên ông ấy thấy nơi này và cả Ibu Lani.”
Tôi nhìn sang nơi anh ta chỉ và há hốc mồm vì kinh ngạc khi thấy sự biến đổi đã xảy ra với Ibi Lani. Không nghi ngờ gì nữa, chính là cô ta, nhưng ăn mặc đẹp hơn và có sự tự tin duyên dáng, điều không hề có khi mà tôi gặp cô ta mười tám tháng trước đây.
Và ai là người ngoại quốc đã bỏ thời gian giúp người phụ nữ này vươn lên khỏi đói nghèo và tuyệt vọng bao quanh cô ta? Mặc những bộ đồ chắp vá, dơ bẩn, và mang những túi rác ướt nhẹp chứa những tờ báo dính mỡ, không ai khác hơn chính là nhà diễn thuyết ở hội nghị năm ấy.
Tôi đã cực kỳ bối rối đến nỗi không thể kể cho người tài xế là tôi nhận thấy hành động khiêm tốn của ông trong việc giúp đỡ người phụ nữ này. Tôi nghĩ Dave là một trong những cá nhân hiếm hoi chỉ muốn giấu mình như vậy.
Nghĩ lại bây giờ, sau khi trải qua bảy năm phục vụ người dân ở Inđônêxia, tôi tự hỏi rằng hành động tự nguyện của Dave đã tác động lên ai nhiều nhất?
Jamie Winship
Con người sẽ được gì khi họ giành được cả thế giới nhưng lại đánh mất tâm hồn của mình
Đức Jesus

Mẹ của tôi, Rosie, bắt dầu công việc tình nguyện đầu tiên của mình vào cuối những năm 1950. Với năm đứa trẻ bướng bỉnh như… à… như tôi, mẹ tôi đã phải tìm một cách tạm thời nhưng chính đáng để thoát khỏi nhà.
Tôi là đứa nhỏ nhất trong đám cứng đầu đã giúp “xua đuổi” để mẹ tôi trở thành một tình nguyện viên. Nhưng chúng tôi không hối tiếc bởi điều này đã định hướng cho cuộc sống của cả mẹ và chúng tôi trong bốn mươi năm sau đó.
Bởi một trong những đứa cháu yêu quý của Mẹ bị mù, Mẹ đã chọn đăng ký vào tổ chức phi lợi nhuận quốc gia mang tên “Tổ chức ghi âm cho người mù và người mắc chứng khó đọc” (RFB&D) đặt tại Upland, một phòng thu ở California.
Mải mê hoàn toàn với công việc, mẹ Rosie đã trở thành hội trưởng (năm lần), người đứng đầu tổ chức quyên góp và là thần tượng của những tân binh tình nguyện. Niềm say mê của bà dễ ảnh hưởng đến nỗi không ai có thể từ chối bà.
Khi mẹ tôi nhận ra những sinh viên bị mù có nhu cầu nhận biết những cuốn băng thu âm sách giáo khoa, bà đã học chữ nổi Braille và làm những tấm thẻ phân biệt cho những cuốn băng ấy. Sau đó bà dạy chữ nổi Braille cho những người bình thường, trẻ em bị yếu thị lực và những sinh viên địa phương.
Mẹ tôi có hai niềm say mê: một dành cho gia đình và một dành cho những người bị yếu mắt. Bà quyết tâm cam kết cho tất cả sinh viên đều có sự công bằng và bảo vệ cho mục tiêu ấy. Ngoài ra, bà đã tốt nghiệp đại học một năm trước khi tôi tốt nghiệp bởi vì, như bà nói và tôi vẫn nhớ: “Việc ghi âm cho những người mù nên có những tình nguyện viên có trình độ đại học hơn, con à.”
Vào một dịp nọ, mẹ Rosie có dịp gặp một người mù. Ngay khi bà giới thiệu về mình cho chàng trai ấy, anh ta kêu lên: “Ồ, tôi biết bà. Bà là quý bà có giọng nói biết cười!”
Mẹ tôi đã sống năm cuối cùng của đời với sự đau đớn tột cùng. Căn bệnh ung thư đã di căn sâu vào trong, và sự đau đớn là một cái gì đó bà không thể hiểu được hay bị khuất phục. Sau bốn mươi năm làm tình nguyện viên – kể cả những chuyến đi hàng tuần đến phòng thu – những người của hội RFB&D đã lập một phòng thu ngay tại nhà mẹ tôi, bởi đi đến Upland để thu âm sẽ quá cực cho bà.
Vào những ngày khỏe mạnh, mẹ tôi có thể thu những cuốn sách đọc khoảng mười lăm phút trong phòng khách cho những đứa trẻ mà bà muốn chắc chắn chúng được học ở trường. Và cuối cùng, khi đã quá yếu đến nỗi không thể ghi âm và chống đỡ với sự đau đớn được nữa, bà dùng những ngày cuối cùng của mình cho việc đọc và sửa những bài học chữ nổi Braille cho những sinh viên mù rất cần đến bà.
Nhưng trước khi mẹ tôi qua đời, bà bắt chúng tôi phải thề là không tổ chức đám ma, nếu không bà dọa sẽ về ám chúng tôi.
Chờ cho đến khi tôi trở về từ Sacramento và đợi thêm một ngày để em tôi, Richard, có thể tổ chức sinh nhật vui vẻ vào ngày 3 tháng Sáu, mẹ tôi – Rose Betty Kelber – một người làm tình nguyện trong gần suốt cuộc đời mình, đã mất vào ngày 4 tháng Sáu năm 1998. Bà là một người đầy nghị lực, luôn quan tâm và đặt người khác lên trên bản thân mình. Gia đình chúng tôi đã cùng nhau vượt qua nỗi mất mát này và tránh lời dọa của Mẹ bằng cách tổ chức “Lễ tưởng nhớ một cuộc đời.” Khi các anh chị em, cha tôi, và tôi ngồi chết lặng ở hàng đầu trong ngôi đền Beth, và khi những đứa trẻ mồ côi đang chuyển linh cửu mẹ tôi, chúng tôi sững sờ khi nhìn thấy hơn hai trăm người ngồi sau chúng tôi. Mọi người đã đến đây để nói lời tiễn biệt với Mẹ. Chúng tôi nghi ngờ rằng những năm tình nguyện của Mẹ lại có ý nghĩa rất lớn đối với những người phụ thuộc vào bà.
Tôi sẽ không thể qên những gương mặt đó. Họ đau buồn trước sự mất mát của một người đã cống hiến quên mình. “Quý bà với giọng nói biết cười”, người đã truyền cảm hứng và dẫn dắt họ, giọng nói ấy giờ đây không còn nữa.
Một trong những người bạn thân của mẹ tôi nói: “Tôi chưa từng biết một người nào có tấm lòng rộng rãi như Rosie. Tài năng và sức mạnh đặc biệt của bà đã được cống hiến với sự quan tâm sâu sắc nhất cho hạnh phúc của người khác. Cuộc đời bà là món quà cho tất cả những ai từng biết bà ấy.” Đó chính là Mẹ của tôi.
Giờ đây tọi đã làm việc cho hội RFB&D ở Los Angeles được sáu năm. Ngày nào tôi cũng được nghe tiếng vọng của Mẹ: “Con yêu của mẹ, đây là một tổ chức rất tuyệt vời. Con phải đảm nhận nó đấy!”
Bây giờ tôi có thể thấy tôi trong vị trí công việc với trái tim và tâm hồn của một tình nguyện viên. Chính ký ức mãi mãi về Mẹ đã giúp tôi nhận ra rằng mỗi người trong chúng ta sẽ nhận được một món quà đặc biệt nào đấy mà nó có thể thay đổi biết bao nhiêu cuộc đời.

Diane Kelber
Người ta luôn là bạn bè tốt khi họ cùng làm những điều họ thực sự yêu thích
Samuel Butler

Khoảng tám năm trước, vợ tôi được chuẩn đoán đã mắc phải một căn bệnh ung thư vú hiếm gặp, đó cũng là lúc tôi học cách cầu nguyện. Tôi vẫn kiên trì cầu nguyện cho vợ tôi có thể khỏe lại, mặc dù những dự đoán chết tiệt của ngành y tá không thể nào dự đoán Lois sẽ còn sống được bao lâu.
Khi vợ tôi khuyên tôi tham gia vào hội giúp đỡ của những người chồng cho những người vợ đang chống chọi với bệnh ung thư vú, ban đầu tôi hơi lưỡng lự. Tôi không muốn chịu đựng nỗi đau này nữa. Nhưng cuối cùng, khi hiểu đây là điều Lois muốn và hiểu được nỗi đau mà những người chồng như tôi đang mang, tôi đã bằng lòng.
Người ta thường hỏi: “Anh làm việc này như thế nào” Anh không cảm thấy chán nản sao? Một số người phụ nữ sẽ không qua khỏi. Anh định sẽ làm gì hay nói gì để tạo nên sự khác biệt?”
Tôi trả lời họ với một câu hỏi khác: “Thế các anh có chịu đựng được khi nhìn vợ, chị, mẹ hay con gái các anh đang chống chọi với căn bệnh quái ác này một cách đơn độc, không có ai trò chuyện và động viên hay không?”
Khi tham gia vào hội giúp đỡ này, tôi được nhiều hơn là mất, được nhận lấy nhiều hơn là cho đi và nhận ra rằng niềm hy vọng luôn tỏa sáng trong một thế giới mà sự tuyệt vọng đang xấm chiếm.
Vài năm trước đây, Sandy, một người phụ nữ năm mươi tuổi hấp dẫn, hỏi vợ tôi liệu bà có thể nói chuyện với tôi trước khi hội hoạt động không. Tôi biết Sandy và chồng bà ta trong những lần gặp trước của hội. Sandy trông như một người mẫu, hoàn toàn khác với hình ảnh mọi người vẫn nghĩ về một người đang bị ung thư vú.
Mặc dù Sandy được điều trị bằng phẫu thuật mà không sử dụng hóa trị liệu, bà vẫn phải chịu đựng đau đớn do những cuộc phẫu thuật, của liệu pháp hoóc-môn và sự thật về cái chết của mình. Bà đã đối mặt với chúng khá tốt, nhưng tôi biết, Mike – chồng của bà, thì không như thế.
Sandy muốn nói chuyện với tôi vì bà đang buồn Mike. Dạo này ông hay đi rangoài hàng giờ sau khi tan sở mà không có một lời giải thích. Cứ mỗi lần bà tìm cách nói chuyện với ông, ông chỉ nhún vai lạnh lùng và bỏ đi trong im lặng. Bà lo rằng chồng của bà không thể chấp nhận bà sau khi phẫu thuật, và họ đang dần mất nhau. Cùng với những giọt nước mắt đau khổ, bà tâm sự: “Tôi nghĩ anh ấy đang ngoại tình.”
“Tôi sẽ cố kéo Mike ra vào cuộc gặp tối nay với ông ấy”, tôi hứa, và thêm vào. “Nhưng nếu ông ấy có kể tôi nghe chuyện gì, tôi sẽ buộc phải giữ bí mật.”
Sandy nói rằng bà ấy hiểu và hy vọng tôi có thể giúp ông ấy.
Buổi tối hôm đó, tôi tụ tập năm người đàn ông vào phòng họp của chúng tôi, trong khi vợ của họ theo một tình nguyện viên khác vào phòng riêng. Sau khi năm người bạn của tôi ngồi thành một nửa vòng tròn lớn, tôi hỏi họ đang sống thế nào. Mọi người đều có thể bộc lộ cảm xúc của họ thành lời và kể về hoàn cảnh của mình, mọi người trừ Mike, ông vẫn ngồi im.
Tôi đưa ra đề nghị của cá nhân tôi cho cả nhóm về việc làm thế nào tôi vượt qua với căn bệnh của vợ tôi. “Có những lúc đã bật khóc mà không có lý do gì, như lúc tôi đang lái xe đi làm chẳng hạn. Một lần, tôi đã đãng trí, lái xe đến Phòng triển lãm trong khi mình không có ý định tới đó. Tôi đã bị quấn chặt với những ý nghĩ tuyệt vọng đến nỗi mất cả sự cảm nhận về thời gian.”
Sau khi lắng nghe chăm chú, họ bắt đầu kể về sự cố gắng của họ. Một vài người kể họ đã muốn bỏ nhà đi thật xa như thế nào bởi vì họ không thể đối diện với nó. Đa số những người đàn ông ấy chấp nhận bị tấn công bởi những nỗi buồn kinh khủng khiến họ phải khóc một mình trong nhiều giờ. Số khác thì nói về sự tuyệt vọng đang dày vò đến nỗi khiến họ quên cả trách nhiệm đối với những việc trong nhà khi người vợ không còn khả năng làm được chúng.
Mike luôn cúi đầu trong suốt buổi nói chuyện, hai bàn tay siết chặt vào nhau trước vạt áo. Khi cuộc nói chuyện tiếp tục, tôi hướng câu hỏi về Mike: “Chúng tôi vẫn chưa nghe anh nói gì, Mike à. Anh đã từng trải qua những điều mà chúng tôi đang nói tới không?” Khi Mike nhìn lên, chúng tôi thấy những vệt nước đọng lên má ông. Mike nhanh chóng chùi chúng đi, như không muốn mọi người biết rằng ông đã khóc.
Mike nói: “Tôi không biết nên làm gì nữa. Tôi chỉ lái xe lang thang trong hàng giờ.” Tôi nghĩ: À, có lẽ đây là lý do tại sao anh ấy lại bỏ đi. Và anh sẽ kể cho chúng tôi nghe chuyện gì nữa đây?

“Mike à, anh thường làm gì khi lái xe lòng vòng như vậy?”, tôi hỏi. “Anh có đi ra và khóc, đi uống bia, hay là đến một nơi nào đó và suy nghĩ không?”
Dường như Mike đang muốn trả lời, nhưng có cái gì đó đã giữ ông lại. Cuối cùng, Mike đứng dậy và hét to: “Tôi đi ra ngoài và gào thét lên. Tôi lái xe đi và gào thét hàng giờ liền, cho đến khi tôi về nhà, tôi không thể nói được nữa vì cổ họng đã khản đặc.”
Tôi choáng váng và cố hiểu được những gì mình vừa nghe thấy. Tôi nói: “Mike, anh phải kể tất cả những chuyện này cho Sandy biết. Chị ấy rất lo lắng cho anh. Anh không biết được đâu, nhưng tôi nói thật đấy. Khi chúng ta ra về, anh cần kể cho Sandy những gì anh đã kể cho tôi.
Khi cả hai nhóm đã kết thúc, tôi thấy Mike tiến đến Sandy. Ông nói với bà ấy trong một lúc, và sau đó Sandy gục đầu vào ngực Mike khóc. Tôi biết Mike cũng muốn khóc, nhưng ông vẫn cố tỏ ra cứng rắn như một người đàn ông mẫu mực. Dù sao, tôi vẫn thấy tự hào về Mike.
Cuối cùng Sandy cũng hiểu là lỗi không phải ở bà ấy, mà là sự bất lực của Mike để phá tan nỗi buồn ghê gớm và không có cách giải quyết về căn bệnh của vợ mình. Đó là một khảnh khắc ngắn ngủi nhưng rực rỡ khi Lois nép mình bên cạnh tôi, và chúng tôi thấy Mike và Sandy khoác vai nhau đi chầm chậm về hướng hành lang yên tĩnh nơi bãi đỗ xe.
Trong những tháng tiếp theo, chúng tôi thấy họ thường xuyên sinh hoạt ở những buổi gặp gỡ của nhóm. Rồi đột nhiên họ không đến nữa. Qua những người bạn thân, tôi được biết bệnh ung thư của Sandy đã di căn đến bộ phận khác của cơ thể, và bà đã không thể chống đỡ nổi. Mike đã ở bên cạnh bà đến tận giây phút cuối cùng.
Mọi thứ vẫn còn rõ ràng như chỉ vừa mới xảy ra hôm qua, và tôi vẫn còn thấy Sandy và Mike nắm tay nhau đi trên hành lang. Ký ức này đã cho thấy và giúp tôi đoan chắc rằng ngay cả trong những ngày quý giá cuối cùng còn ở bên nhau, họ vẫn có thể yêu, chia sẻ và động viên cho nhau.

George S.J.Anderson
Dàng tặng cho Mike và Sandy Sexton

Triết lý sống của tôi là không những bạn phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình, mà với mỗi việc tốt nhất mà bạn làm được bây giờ, bạn sẽ có được chỗ đứng tốt nhất trong tương lai.
Oprah Winfrey


Dọc suốt hành lang của bệnh viện, bạn có thể nghe thấy những tiếng hò reo thích thú khi lũ trẻ đang háo hức chờ đến lượt đánh những trái bóng quần vợt đủ màu. Cứ với mỗi cú đánh là một tiếng cười lại vang lên xuyên qua những bức tường lạnh lẽo.
Vào một ngày đặc biệt này, đội tình nguyện của chúng tôi tổ chức “Những nhịp diệu khác nhau của Quần vợt” ở Orlando, Florida đã đến một bệnh viện địa phương dành cho trẻ em để tiếp xúc với những đứa trẻ tàn tật ở đây. Chương trình phục hồi đặc biệt này không dạy cho trẻ đánh quần vợt mà tập cho trẻ bị tàn tật những kỹ năng bình thường như sự quan sát và sự phối hợp giữa tay và mắt.
Như những lần trước, những tình nguyện viên chia nhau ra để kèm riêng cho từng em nhỏ. Sau khi nghe những hướng dẫn sơ qua về cách cầm vợt, các em được cho phép đánh thử bóng. Lẽ trẻ từ từ trở nên tự tin hơn sau những cú đánh thật lực.
Bỗng nhiên có một sự cố bất ngờ xảy ra.
Khi chúng tôi đang phân phát vợt cho lũ trẻ, tôi nghe giọng nói của một cậu bé phía sau lưng tôi.
“Cho em chơi với được không?”, cậu bé hỏi từ một nơi nào đó. Tôi không nhìn xung quanh xem ai đang nói chuyện với mình mà chỉ với tay lấy thêm một cây vợt nữa để phát cho cậu bé đó.
Đột nhiên tôi nhìn thấy một cậu bé chừng tám tuổi tên Joey. Mọi người ngưng hoạt động của mình lại và nhìn về phía tôi, tự hỏi tôi sẽ đối phó với trường hợp này như thế nào. Tôi quay lưng lại làm như đi lấy vợt nhưng thực ra là tiến đến vị bác sĩ đang đứng cạnh túi vợt và hỏi thăm một cách bối rối: “Tôi có nên đưa vợt cho cậu ta không?”
Bác sĩ nhúng vai và thì thầm với tôi: “Tôi cũng không biết. Joey chưa từng tham gia vào một hoạt động thể thao nào từ khi nó đến đây.”
Tất cả các tình nguyện viên đều im lặng nhìn tôi bởi vì tôi vừa hứa với Joey – một cậu bé ngồi trên xe lăn, không có tay và chân, chỉ còn những mấu cụt mà đáng lẽ ở nơi đó phải là một đôi tay lành lặn – một cơ hội để tham gia chơi. Một tình nguyện viên hỏi người y tá xem những cái chân tay giả để ở đâu, nhưng lại được trả lời rằng: “Joey không dùng chúng đâu bởi vì cậu bé không thích chúng.”
Cậu bé tám tuổi thông minh này bắt đầu chỉ cho chúng tôi bài học về dũng cảm mà chúng tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ quên được. Cậu cho chúng tôi thấy cậu vẫn còn có giá trị, và không bao giờ nói một đứa bé thì không thể làm được.
Joey nhanh chóng lăn xe lại phía tôi. Cậu lịch sự nhưng dứt khoát hỏi mượn tôi một cây vợt. Trước khi tôi kịp nói gì, cậu nắm lấy cây vợt bằng mấu cụt của cánh tay và đặt cán vợt ở dưới nách. Cậu lăn xe bằng cánh tay trái bị cụt về phía góc xa của căn phòng. Cậu dang đôi chân ra để giữ thăng bằng và yêu cần tôi ném quả bóng cho cậu. Tôi làm theo yêu cầu đó ngay, trong khi mọi người trong phòng nhìn với sự ngạc nhiên cao độ khi cậu đánh quả bóng một cách dứt khoát. Tay tôi lại ném bóng thật nhẹ cố không để nó trúng vào Joey, và nó đã không đúng với tư thế của Joey.
“ANH NÉM QUẢ BÓNG MẠNH LÊN!”, Joey la lớn. Một nếp nhăn lớn hiện trên khuôn mặt cậu khi cậu ra lệnh: “Anh ném lại lần nữa đi!”. Một lần nữa, chàng trai tám tuổi kỳ lạ này đánh quả bóng bay đến góc phòng.
Từ cái giây phút ấy, nhòm chúng tôi đã có một triết lý mới. Những tình nguyện viên lần lượt giúp bất kỳ đứa trẻ “Tôi không thể” nào trở thành một Joey “Tôi có thể!”

LỜI GIỚI THIỆU , CÁI CHẠM CỦA TÌNH YÊU , DAVE , QUÝ BÀ CÓ GIỌNG NÓI BIẾT CƯỜI , NHỮNG CUỘC VIẾNG THĂM QUÝ GIÁ , YÊU ĐẾN PHÚT CUỐI CÙNG , KHÓA KÉO , TÔI CÓ THỂ… , CHIẾC CHÌA KHÓA DIỆU KỲ , CHIẾC VÁY NHỎ , SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG , NGƯỜI HƯỚNG DẪN BẤT ĐẮC DĨ , CÁI GỐI , VÒNG QUAY CỦA ĐỊNH MỆNH , THÊM MỘT NGƯỜI NỮA… , CÁI ÔM VÀ NỤ HÔN , KÍ HIỆU , MÓN QUÀ CỦA BÀ , SỐNG VỚI TINH THẦN CỦA MẸ , MÓN QUÀ CỦA MỘT ĐỨA TRẺ , TRƯỚC MỘT BƯỚC , MỘT NGƯỜI BẠN CHO TẤT CẢ CÁC MÙA , NGƯỜI HÙNG CỦA TÔI , KHÔNG MỘT LỜI NÓI , HÃY THA THỨ CHO BỐ , TRÒ CHUYỆN VỚI MỘT CHÚ BÉ THÔNG MINH , VÒNG TAY TÌNH YÊU , PHÁ TAN SỰ IM LẶNG , NHỰA SỐNG , PHẦN CÒN LẠI TỪ ROGER ,


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s